Điện thiếu không chỉ do… đội nắng

Chia sẻ tin này:

Sự tăng đột ngột trong tiêu thụ điện do nắng nóng đã dẫn đến tình trạng thiếu điện, và cả Bộ Công thương cùng ngành điện đều đã giải thích lý do này khi thực hiện lịch cắt điện luân phiên. Tuy nhiên, một sự thật đáng lưu ý là trong suốt những năm qua, không có dự án mới nào được thực hiện trong lĩnh vực điện lực phía bắc. Thậm chí, ngay cả công suất dự phòng cũng đã không còn tồn tại khi thiếu điện xảy ra.

Hết công suất dự phòng

Tháng 5 vừa qua, khi một số khu vực ở TP.HCM bị mất điện, báo chí đã đặt câu hỏi liệu ngành điện có đang áp dụng chế độ cắt điện luân phiên hay không. Trong cuộc họp báo, Tổng công ty Điện lực TP.HCM và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã khẳng định rằng chỉ có việc khắc phục các sự cố kỹ thuật… và sau đó lịch cắt điện cũng đã được hoãn lại. Từ đó, toàn ngành điện trong cả nước đã hợp sức đối phó với tình trạng… cắt điện. Thật may, miền Nam cũng bước vào mùa mưa, mang đến không khí mát mẻ và giảm áp lực thiếu điện.

Nguy cơ thiếu điện không chỉ xảy ra trong những tháng nắng nóng này.

Thiếu điện ở miền Bắc không chỉ do thời tiết, mà còn do hệ thống điện kém phát triển và thiếu đầu tư, dẫn đến việc không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng cao của dân số và sản xuất.

Hiện tại, miền Bắc đang đối mặt với tình trạng thiếu điện rộng rãi do nguồn điện chủ yếu từ thủy điện và nhiệt điện gặp khó khăn. Sản lượng thủy điện đã giảm một nửa so với năm trước, chỉ đạt khoảng 12 – 15% công suất phát, và đây là nguyên nhân dễ hiểu cho tình trạng thiếu điện lan rộng tại khu vực này.

Theo thống kê của Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia, năm 2022, hệ thống điện cả nước hiện đang vận hành với 360 nhà máy (không tính các nhà máy thủy điện nhỏ) và tổng công suất đạt 80.704 MW. Tuy nhiên, công suất này chỉ là công suất đặt, chưa tính đến công suất khả dụng (huy động thực tế), đặc biệt khi mùa khô nóng như thời gian gần đây. Đáng chú ý, trong số 12 hồ thủy điện lớn tại khu vực phía bắc, tất cả đều đạt mức nước chết, điều này đồng nghĩa với việc công suất điện huy động thực tế sẽ giảm mạnh.

EVN cho biết, đến ngày 3.6, nguồn thủy điện đã thiếu hụt 5.000 MW. Ngoài ra, dữ liệu cho thấy nguồn điện gió năm nay chỉ đạt được 20% công suất đặt.

Thông tin cho biết vào ngày 7.6, đại diện từ EVN thông báo rằng: “Thực tế công suất khả dụng nguồn của hệ thống điện quốc gia tại nhiều thời điểm thấp hơn nhu cầu. Trong khi đó, hệ thống điện luôn trong tình trạng không còn công suất dự phòng. Áp lực càng lớn hơn khi EVN sẵn sàng huy động nguồn điện cao như nhiệt điện dầu để khắc phục thiếu điện, giá thành của nhiệt điện dầu không thấp, khoảng 4.000 đồng/kWh”. Thủy điện ở Việt Nam nói chung coi như đã khai thác hết các vị trí, công suất và năng lượng tái tạo trong thời gian gần đây, đặc biệt là tại miền Bắc không có gì thay đổi. Nếu thời tiết nắng nóng kéo dài, tình trạng thiếu điện tại miền Bắc sẽ trở nên nghiêm trọng hơn. Vì vậy, việc khắc phục thiếu điện chỉ là tạm thời và thời điểm cụ thể vẫn chưa được xác định theo lời hứa của Bộ Công Thương vào đầu tháng 6.

Dự án tắc vì quy hoạch chậm ban hành

Ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, đã tuyên bố một cách thẳng thắn: “Thiếu điện sẽ không còn là nỗi lo của năm nay mà là vấn đề của những năm sau nữa.” Nguồn cung điện không còn công suất dự phòng đã được cảnh báo từ rất lâu, tuy nhiên việc chậm ban hành Quy hoạch Điện 8 đã khiến mọi thứ “chôn chân”. Trong nhiều năm qua, khu vực phía bắc gần như không có bất kỳ dự án điện mới nào được đầu tư, trong khi tính toán cho thấy hệ thống điện cần bổ sung từ 3.000 đến 4.500 MW mỗi năm.

Ông Ngãi đã dẫn chứng và nhấn mạnh rằng một số dự án nhiệt điện trong Quy hoạch Điện 7 sửa đổi đã không được triển khai do nhiều lý do khác nhau. Nhiều địa phương không chấp nhận dự án nhiệt điện vào tỉnh mình và một số dự án gặp khó khăn về vốn. Thậm chí, cả chục dự án khí LNG đã được bổ sung trong Quy hoạch Điện 7 đến nay vẫn chưa thể hoàn tất bước chuẩn bị đầu tư. Đáng chú ý, kế hoạch lắp đặt các dự án điện gió ngoài khơi với công suất lên tới 7.000 MW vào năm 2030 cũng chưa được triển khai do vướng chính sách.

Hơn nữa, ông Ngãi cho biết rằng Quy hoạch Điện 8 đã chậm ban hành và sau khi ban hành cũng chưa có hướng dẫn cụ thể, gây trở ngại trong việc đầu tư và triển khai 500 dự án truyền tải điện, đang đẩy quá trình này vào tình trạng bế tắc.

Chuyên gia năng lượng TS Trần Văn Bình, trong một phân tích chi tiết, đã nhấn mạnh rằng Quy hoạch Điện 8 đã đặt mục tiêu đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải trong 10 năm (từ 2021 – 2030), và với chỉ còn 7 năm nữa, cần mỗi năm 1,5 tỉ USD để đầu tư. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, số tiền giải ngân năm 2022 chỉ đạt khoảng 16.500 tỉ đồng, chưa đến nửa số đề ra. Một vấn đề khác là việc mọi người đều đồng lòng rằng cần để tư nhân tham gia truyền tải điện, và nếu có sự mở cửa, nhà đầu tư sẽ ngay lập tức đầu tư. Tuy nhiên, Luật Điện lực đã được sửa đổi từ tháng 3.2022 để cho phép điều này, nhưng sau hơn 1 năm, vẫn chưa có nghị định hướng dẫn. Vấn đề không chỉ dừng ở đó, mà còn cần có thông tư sau nghị định, điều này khiến nhà đầu tư tư nhân gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia đầu tư mà không bị ràng buộc từ trước đến sau. Hiện tại, nhà đầu tư tư nhân chủ yếu chỉ đầu tư vào việc xây dựng đường truyền tải điện để phục vụ tải điện từ nhà máy của họ tới điểm đấu nối của EVN, mặc dù điều này không có trong quy hoạch điện, vì vậy chưa rõ khi nào mới có thể được đầu tư để bán điện.
Thiếu điện không chỉ vì... nắng nóng - Ảnh 3.
“Quy hoạch Điện 8 đã quy định rằng EVN sẽ chỉ đầu tư vào các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải theo nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, người đã giao nhiệm vụ và giao nhiệm vụ như thế nào cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Quy hoạch bao gồm 500 dự án truyền tải điện, nhưng không hướng dẫn rõ ràng về việc nhà nước nên đầu tư vào dự án nào và dự án nào mở cửa cho tư nhân tham gia, dẫn đến tình trạng đứng im. Giả sử rằng sau khi đã được giao nhiệm vụ và kêu gọi đầu tư, thì thời gian để lập dự án và xin giấy phép lại kéo dài nhiều năm. Do đó, tình trạng thiếu điện không chỉ là câu chuyện của một đợt nắng nóng kéo dài 3 tháng mà là một nguy cơ kéo dài do các chính sách triển khai chưa đủ quyết liệt,” chia sẻ của TS Trần Văn Bình.
Ông Trần Viết Ngãi tính toán rằng trong giai đoạn 2019-2021, đã có hơn 20.000 MW năng lượng tái tạo được thêm vào hệ thống điện quốc gia. Điều này đồng nghĩa rằng chỉ còn 1.200 MW từ nhà máy điện than Vân Phong 1 hoạt động trong năm nay và không có nguồn điện nào khác đủ lớn để đáp ứng lượng điện thiếu.
Chia sẻ tin này:

Có thể bạn quan tâm